TRÍ TUỆ THẨM THẤU: NĂNG LỰC NGÔN NGỮ TUYỆT VỜI CỦA TRẺ
Trích trong Giáo dục từ khi sinh ra Bài 7
Những Bài thuyết giảng ở London năm 1946 17 tháng 9 năm 1946
Khi chúng ta theo dõi hành vi của trẻ, chúng ta thấy rằng một trong những điều quan trọng nhất có thể được quan sát được là sự phát triển ngôn ngữ của trẻ. Để đạt tới điều này, trẻ phải có một thính giác rất tốt và khả năng tiếp nhận từng chi tiết nhỏ của âm thanh từ ngôn ngữ xung quanh trẻ. Nếu không thì trẻ không thể học nói. Điều này rất thú vị và có tầm quan trọng đến nỗi sự phát triển của ngôn ngữ là một trong những hiện tượng được quan sát và nghiên cứu thường xuyên nhất của thời thơ ấu.
Một kết luận đã được đưa ra là TRẺ BẮT ĐẦU TIẾP THU NGÔN NGỮ CỦA MÔI TRƯỜNG NGAY TỪ GIAI ĐOẠN ĐẦU ĐỜI.
Làm thế nào chúng ta đi đến kết luận này? Bởi vì đó là một kết luận mang tính lô-gic. Bởi vì khi trẻ được ba tháng tuổi, trẻ đã rất thích thú với bất cứ ai đang nói. Trẻ thích thú, bởi vì cái miệng của chúng ta mấp máy đã khiến trẻ say mê; sự vô thức của trẻ tò mò muốn xem cơ quan kỳ lạ này có cấu tạo như thế nào, để từ đó những âm thanh này phát ra. Vì vậy, trẻ nhìn chăm chú vào miệng của người lớn khi họ đang nói. Bạn phải nhận ra điều này cho chính mình. Đây là điều rất cần thiết cho bạn khi quan sát trẻ và để ý tới những sự thật thường hay bị bỏ qua này.

Khi bạn nói chuyện với em bé, thay vì nhìn bạn, vào mặt bạn, hoặc bất cứ thứ gì hấp dẫn mà bạn đang mặc, như hoa hồng hoặc trâm cài, trẻ sẽ nhìn thẳng vào miệng bạn. Khi bạn nói chuyện trực tiếp với trẻ, tất cả chúng ta đều nói chuyện với trẻ theo cách duyên dáng và trìu mến, trẻ sẽ không hiểu bạn đang nói gì, nhưng trẻ sẽ cảm thấy xúc động và vui mừng đến nỗi trẻ sẽ bắt đầu mấp máy miệng của mình. Nếu trẻ nhỏ vui mừng khi thấy miệng của bạn mấp máy, đó là bởi vì trẻ đã nhận thấy giọng nói của con người như một loại âm thanh du dương kỳ lạ. Khi chúng ta nói chuyện với một em bé, giọng nói của chúng ta mang một giai điệu đặc biệt. Chúng ta có thể tưởng tượng rằng em bé có cảm nhận sâu sắc bằng âm nhạc đến nỗi, khi được khoảng ba tháng tuổi, trẻ đã ghi nhớ những âm thanh này đến từ cái miệng đang mấp máy, trẻ mang cùng một cảm giác rất hạnh phúc và trân trọng. Trẻ hoàn toàn nghiêm túc với điều này, bởi vì những cảm xúc lạ này đã chạm vào trẻ. Trẻ sẽ nhìn chăm chú vào cái miệng của người lớn, đây là nơi chứa đựng những giai điệu từ khi trẻ bắt đầu sự sống. Chúng ta có thể kết luận rằng trẻ nhỏ là người tự xây dựng nên công trình tâm lý tinh thần của mình, trẻ vô cùng cảm động bởi âm thanh của giọng nói con người, những âm thanh và tiếng động khác dường như không tồn tại đối với trẻ.
Các nhà tâm lý học nói rằng nếu bạn gõ ngón tay lên bàn, trẻ sẽ không chú ý, nhưng nếu một con chó sủa ầm ĩ, trẻ sẽ nhảy lên. Bởi vì trẻ nhảy lên, họ nói rằng: “Đừng nuôi chó trong nhà. Trẻ không nên bị phấn khích.” Trẻ rất thích giọng nói con người, nó được ví như âm nhạc thần thánh, đến nỗi trẻ sẽ bỏ qua những tiếng động khác, và vì vậy các nhà tâm lý học kết luận rằng khả năng nghe của trẻ không được phát triển tốt. Chúng tôi nói rằng giác quan thính giác có tầm quan trọng lớn đối với việc xây dựng tâm lý tinh thần của sự sống. Khi tôi thấy hiện tượng tuyệt vời này, tôi phiêu diêu cùng trí tưởng tượng của tôi. Tôi tưởng tượng có một trẻ sơ sinh và tôi đến nói với bé rằng: “Ấn tượng đầu tiên của con khi con đến thế giới này là gì?” và trẻ sẽ trả lời: “Con nghĩ rằng mình đang ở trong một thế giới âm nhạc.” Trẻ giống như một thiên tài được thôi thúc làm một công việc to lớn; trẻ có nhiệm vụ phải tạo thành ngôn ngữ. Đây là một điều tuyệt vời mà trẻ phải xây dựng.

▪️ NGÔN NGỮ LÀ MỘT SẢN PHẨM CỦA CON NGƯỜI; nó không thể được tìm thấy trong tự nhiên, giống như một bông hoa. Đó là một sáng tạo của con người. Đó là một sự tiếp thu trí tuệ. Nó không phải là một sản phẩm cố định của tự nhiên cho loài người, vì mỗi dân tộc sở hữu ngôn ngữ đặc biệt của riêng họ. Ngôn ngữ có từ rất lâu đời; nó đã được tạo ra bởi nền văn minh qua hàng ngàn năm, dần dần trở nên phong phú hơn. Nó tồn tại trong môi trường nhưng nó không phải là một thứ tự nhiên; mà được con người mang vào môi trường, nó là kết quả của trí thông minh của con người.
Làm thế nào ngôn ngữ này có thể gây hứng thú với một em bé?
Ngôn ngữ không tồn tại ở trẻ nhỏ, nhưng sự nhạy cảm là có. Chúng tôi đang nhìn nhận ở một góc độ tinh thần khác. Nếu chúng ta muốn trở thành thông dịch viên của trẻ, chúng ta phải nhận ra rằng chúng ta đang nghiên cứu một hiện tượng vô thức. Trước khi có sự xuất hiện của ý thức, đây là những hoạt động tuyệt vời được thực hiện trong vô thức. Trẻ vô thức nhưng có khả năng và sức mạnh tuyệt vời. Trẻ thậm chí có thể học một ngôn ngữ một cách kỳ diệu. (Có lẽ không có từ nào tốt nhất có thể giải thích được, nhưng chúng ta có thể sử dụng từ nào khác hay sao?) Đó là một phép lạ của bản chất con người; bản chất tâm lý tinh thần của con người là điều kỳ diệu nhất trên thế giới.
Bây giờ chúng ta phải xem xét cái cách mà trẻ tiếp thu và chinh phục ngôn ngữ. Ngôn ngữ được tạo ra bởi trẻ từ sơ sinh đến hai tuổi. Ngay trước khi trẻ lên hai tuổi, trẻ đạt được nhiều vốn từ, nhưng chẳng bao lâu sau hai tuổi trẻ đã có thể nói được. Ngôn ngữ không mang tính di truyền, trẻ thấm hút ngôn ngữ từ môi trường, vì trẻ có khuynh hướng ngôn ngữ và khả năng tiếp thu ngôn ngữ. Để giúp bạn hiểu điều này, bạn hãy tưởng tượng ra một tinh vân (một tinh vân thì chưa đủ khả năng xây dựng thành một chòm sao). Để tạo ngôn ngữ từ tinh vân này, người ta phải có khả năng thu nhận tất cả các âm thanh tạo thành ngôn ngữ, có khả năng thu nhận việc xây dựng ngôn ngữ và tiếp thu ngữ pháp, bởi vì không có tất cả những điều này, bạn không thể tạo ra ngôn ngữ. Với một chút khác biệt trong thanh điệu, từ có thể mang nghĩa hoàn toàn khác. Thứ tự của các từ trong một câu rất quan trọng và các từ phải được phát âm rõ ràng. Hãy tưởng tượng tất cả những quá trình này khó khăn như thế nào: Trẻ trong giai đoạn vô thức, khi ý thức đang phát triển từng chút một, sẽ đưa tất cả những gì đã nhận được từ vô thức vào ý thức.
Điều ấn tượng nhất là ngôn ngữ được thấm hút từ môi trường là ngôn ngữ duy nhất mà chúng ta mang theo đến khi trưởng thành, chúng ta sẽ sở hữu trọn vẹn điều này. Một ngôn ngữ nước ngoài rất khó để học, âm thanh rất khó, trong khi tiếng mẹ đẻ là ngôn ngữ duy nhất chúng ta có thể nói một cách hoàn hảo. Bất kể chúng ta cố gắng đến mức nào và dành nhiều thời gian để nghiên cứu cách phát âm của ngôn ngữ khác, giọng đọc của chúng ta sẽ tiết lộ ngay chúng ta là người nước ngoài. Khi học cách xây dựng ngữ pháp của một ngoại ngữ, chúng ta phải làm việc rất chăm chỉ, trong một thời gian dài. Đây là tất cả các chi tiết nhỏ. Tuy nhiên, nếu chúng ta không học được tất cả các chi tiết nhỏ, những gì chúng ta phát ra sẽ không rõ ràng. Sự rõ ràng trong ngôn ngữ phụ thuộc vào các chi tiết này, các cấu trúc ngữ pháp, phát âm, v.v., tất cả những sự kết hợp hoàn hảo này chỉ có trong ngôn ngữ mẹ đẻ của chúng ta. Có lẽ một bác ngữ học có thể biết một ngôn ngữ khác gần như hoàn hảo, giống như hiểu biết tiếng mẹ đẻ, nhưng ông ta phải dành phần lớn cuộc đời của mình cho việc nghiên cứu đó. Trong khi đó, ngay cả trước khi chúng ta đi học, chúng ta đã nói tiếng mẹ đẻ một cách rành mạch. Chúng ta hiểu nó trước khi chúng ta nghiên cứu nó. Hãy tưởng tượng việc học một trong những ngôn ngữ cổ điển như tiếng Latin hay tiếng Phạn khó như thế nào. Quá trình này đòi hỏi nhiều công việc – sinh viên nghiên cứu tiếng Latin trong sáu hoặc bảy năm và cuối cùng, không thể nói được. Tuy nhiên, vào thời La Mã, mọi đứa trẻ chơi trên đường phố đều nói tiếng Latin, sử dụng tất cả các biến thể chính xác của danh từ và cách chia động từ. Tiếng Latin rất dễ. So với tiếng Phạn, đó là trò giải trí của trẻ em. Ở Ấn Độ, một vài người đàn ông uyên bác biết tiếng Phạn, nhưng nếu có ai giỏi về nó, người đó được cho là thông minh đáng kinh ngạc. Trong số các ngôn ngữ hiện đại, chúng tôi thấy tiếng Đức rất khó, phát âm rất khó; cách biến thể và cấu trúc khó khăn với chúng tôi. Tuy nhiên, mọi đứa trẻ ở Đức đều nói tốt tiếng Đức. Trẻ em Đức không bắt đầu bằng cách nói tiếng Ý, vì tiếng Ý là ngôn ngữ dễ hơn tiếng Đức. Không có các bước dẫn dắt từ một ngôn ngữ dễ đến một ngôn ngữ khó cho trẻ. Bất kể có khó khăn gì chăng nữa, thì trẻ vẫn tạo ra cho mình sự thu nhận ngôn ngữ một cách tốt nhất có thể. Trẻ làm điều này mà không cần giáo viên; sẽ không có giáo viên nào nói với một em bé người Anh: rằng tính từ phải đứng trước danh từ hoặc nói với một trẻ người Ý: rằng tính từ phải đứng sau danh từ đó. Tuy nhiên, cả hai trẻ đều hiểu việc xây dựng cấu trúc này một cách chính xác. Sẽ không có giáo viên nào nói với một đứa trẻ Đức rằng các động từ tiếng Đức được chia làm hai và một phần phải được đặt ở giữa câu và phần còn lại ở cuối câu. Trẻ em Đức có thể xây dựng ngôn ngữ của mình một cách chính xác.
Chúng ta phải đưa ra kết luận từ tất cả những điều mà trẻ có được, trong vô thức của trẻ, một sức mạnh khác với bất kỳ thứ gì mà chúng ta sở hữu như những người có ý thức. Khi chúng ta nghiên cứu về trẻ, chúng ta phải nhận ra rằng hình thức tâm trí của trẻ khác với hình thức tâm trí mà người lớn chúng ta sở hữu. Kết luận này khác với kết luận thông thường, rằng trẻ không có trí óc vì tâm trí của trẻ quá khác biệt so với chúng ta. Trái lại, sức mạnh của trẻ lại vượt trội so với chúng ta. Trẻ được ban cho những khả năng mà chúng ta không còn sở hữu nữa. Một thực tế thú vị khác cần ghi nhớ là cho dù trẻ em trên thế giới sinh ra ở khu vực nào, tất cả trẻ đều học ngôn ngữ dù ít hay nhiều ở cùng độ tuổi. Tất cả trẻ đều có khả năng tự hiểu mình khi hai tuổi – trẻ ở khắp mọi nơi bùng nổ một âm tiết lúc sáu tháng tuổi – ma ma ma, ba ba ba, v.v. Ở khắp mọi nơi trên thế giới, những từ có chủ ý đầu tiên được trẻ nói khi trẻ một tuổi. Trẻ em trên toàn thế giới hình thành những từ đầu tiên của mình một cách gián tiếp mà không nhận ra rằng âm thanh biểu thị một đối tượng hoặc ý tưởng – và rồi đột nhiên, khi được một tuổi, trẻ bắt đầu sử dụng các từ có chủ ý.
Mặc dù ngôn ngữ được hình thành từ khi sinh ra đến một năm tuổi, nhưng không có sự tham gia của ý chí ý thức, từ một đến hai tuổi, ngôn ngữ được phát triển có chủ ý bởi trẻ đang cố gắng thể hiện bản thân. Điều gây tò mò là tất cả trẻ em trên toàn thế giới đều tuân theo trật tự này như thể có một ngôi trường bí ẩn và trẻ em trên toàn thế giới đang theo cùng một giáo trình. Có một điều thú vị là nếu được sinh ra giữa những người có ngôn ngữ kém phát triển, chẳng hạn ở một bộ lạc châu Phi nguyên thủy, trẻ sẽ dùng ngôn ngữ của bộ lạc đó khi lên hai tuổi, trong khi trẻ cũng ở độ tuổi như vậy được sinh ra ở một đất nước có ngôn ngữ phức tạp như tiếng Trung Quốc, trẻ sẽ học ngôn ngữ đó một cách dễ dàng và biết nói khi được hai tuổi. Đây là một bằng chứng khác cho thấy hình thức tâm trí này khác với chúng ta. Không có bất cứ một sự thờ ơ nào với chúng ta, cho dù một ngôn ngữ có phức tạp hay không khi chúng ta muốn học nó. Tôi biết các nhà truyền giáo làm việc trong một số bộ lạc châu Phi và họ bắt đầu học ngôn ngữ của các bộ lạc đó trong suốt thời gian – họ có rất ít vốn từ khi họ tìm đến các bộ lạc, họ chỉ có thể nói được vài từ đủ để hiểu được. Nhưng nó khác biệt thế nào nếu chúng ta muốn học một ngôn ngữ phức tạp như tiếng Đức, tiếng Ý hoặc tiếng Trung Quốc. Khi chúng ta học một ngôn ngữ khi còn nhỏ, chúng ta học nó một cách dễ dàng và chính xác.
Ngôn ngữ duy nhất chúng ta sở hữu hoàn hảo là ngôn ngữ mà chúng ta gọi là tiếng mẹ đẻ và chúng ta có được khi còn nhỏ. Mặc dù chúng ta gọi nó là tiếng mẹ đẻ, nhưng không phải là người mẹ dạy cho trẻ ngôn ngữ này. Nếu người mẹ đã chết, trẻ vẫn sẽ học được ngôn ngữ này. Nếu người mẹ đưa trẻ đến sống ở nước ngoài, trẻ sẽ có được ngôn ngữ của quốc gia đó một cách hoàn hảo, trong khi người mẹ thì không. Không phải người mẹ học và sau đó dạy con. Chúng tôi không có ý nói điều này để làm mất lòng người mẹ, mà chỉ để công nhận thành quả của trẻ vì trẻ xứng đáng. Đây là một hiện tượng mà người ta không thể giải thích, nhưng người ta có thể quan sát điều này và nhận ra sự tồn tại của nó. Tôi không giải thích nó, nhưng tôi sẽ so sánh nó với những thứ bình thường khác để làm cho nó rõ ràng. Hãy để chúng tôi so sánh một cái máy ảnh với một nghệ sĩ, một họa sĩ. Nếu ai đó đứng trước máy ảnh, họ chỉ cần nhấp vào camera để có được hình ảnh của người đó. Nếu hai mươi người đứng trước máy ảnh thì cũng sẽ mất cùng một thời lượng công việc và thời gian như vậy, chỉ cần nhấp vào máy sẽ đưa mọi vật vào trong tiêu cự, bất kể tầm nhìn có thể phức tạp đến mức nào. Nó khá khác với công việc của một họa sĩ. Vẽ một người hoàn toàn không giống với vẽ hai mươi người, có một vật sẽ rất khác với có hai mươi vật, hay rất nhiều vật trong môi trường. Máy ảnh chụp các bức ảnh một cách dễ dàng như nhau nhưng lại mất rất nhiều công đoạn với họa sĩ khi vẽ bức tranh như vậy. Mức độ chính xác cũng rất khác nhau. Nếu chúng ta muốn thực hiện một nghiên cứu tâm lý về con người, chúng ta sẽ muốn một bức ảnh của người đó chứ không phải một bức tranh, bởi vì một bức ảnh sẽ tái tạo chính xác biểu cảm của một người, trong khi một bức chân dung thì không. Một máy ảnh được lấy nét đúng cách sẽ chụp ảnh tức thời và chính xác. Nếu chúng ta chụp ảnh một trang của một cuốn sách, trên đó chỉ có một từ, ví dụ như tiêu đề, và một trang khác có chữ được viết trên phông Gothic, với các chữ cái viết hoa theo kiểu nghệ thuật, chúng ta chụp hai ảnh với độ chính xác như nhau, với các công đoạn như nhau. Nếu bạn chép các trang chữ kiểu Gothic, một ai đó có thể quan sát bạn và ghi chú lại các công đoạn. Khi một nghệ sĩ đang vẽ, anh ta có thể nói: “Đừng xem vội. Nó vẫn còn chưa giống với mẫu. Hãy chờ một chút, lúc đó bạn sẽ thấy một bức chân dung.” Nhưng bạn có thể thấy gì với chiếc máy ảnh? Bạn có thể nhận thấy điều gì không? Không có gì. Chúng ta chỉ nghe thấy một tiếng nhấp và chúng ta biết điều gì đó đã xảy ra bên trong máy ảnh, nhưng chúng ta không biết chuyện gì đã xảy ra. Chúng ta chỉ biết rằng nếu bức ảnh được hoàn thiện, nó phải được giữ ở trong bóng tối với một số hóa chất và trong một thời gian nhất định, cho dù bao lâu đi chăng nữa, bức ảnh đó cũng sẽ mãi mãi không thay đổi. Ngay khi chúng ta có thể nhìn thấy nó, mọi chi tiết sẽ vĩnh viễn không thay đổi. Chúng ta có thể so sánh phòng tối với vô thức. Một cái gì đó xảy ra ở đó cho phép mọi thứ trở nên cố định và vĩnh viễn.
Đây là sự khác biệt giữa tâm trí của trẻ và tâm trí của người lớn. Đứa trẻ sở hữu kiểu trí óc bằng cách chụp lại hình ảnh, trong khi người trưởng thành giống như kiểu vẽ tranh. Với người trưởng thành, để đạt được sự hoàn hảo, nỗ lực lao động là cần thiết và người ta có thể theo dõi tiến trình đang được thực hiện. Hãy giữ cho chúng ta hình ảnh của trẻ thấm hút mọi thứ trong môi trường, và hình ảnh của trẻ, trong tiềm thức bí ẩn của mình, tự hoàn thiện tính cách của mình. Một ngày nọ, trẻ thể hiện những gì đã được cố định trong tiềm thức của mình, giống như một nhiếp ảnh gia bước ra khỏi phòng chụp hình, sẽ cho bạn thấy bằng chứng từ những bức ảnh được chụp.
Có hai loại trí tuệ phải được phân biệt rõ ràng.
Loại trí tuệ của trẻ gọi là trí tuệ thấm hút; trẻ thấm hút bất cứ thứ gì xung quanh trẻ. Và trí tuệ thứ hai là trí tuệ của một người trưởng thành.
Chúng tôi gọi trí tuệ của trẻ là TRÍ TUỆ THẤM HÚT.
Đó là một trí tuệ có sức mạnh tâm lý tinh thần đặc biệt, thứ mà người lớn chúng ta mất sau này, bởi vì bất cứ điều gì người lớn chúng ta muốn có, chúng ta phải có được bằng nỗ lực và sự mệt mỏi. Một thực tế kỳ diệu khác cho thấy trí tuệ thấm hút này không bao giờ cảm thấy mệt mỏi. Nó giống như một chiếc máy ảnh: nó nhấp chuột, và mọi thứ diễn ra nhanh chóng đến bất ngờ, trong khi trí tuệ của người lớn giống như một họa sĩ thì thốt lên rằng “Ôi, cái tay của tôi mỏi quá”. Điều duy nhất mà trí tuệ thấm hút cần là cuộc sống của cá nhân, chúng ta cho trẻ cuộc sống và môi trường và trẻ sẽ thấm hút tất cả những gì có trong đó. Nhưng cũng có nghĩa là nếu bạn giữ chiếc máy ảnh trong ngăn kéo, bạn sẽ không bao giờ có được bất kỳ một hình ảnh nào. Môi trường bên ngoài rất cần thiết cho trí tuệ thấm hút.
Ở một khía cạnh khác, nếu bạn xem trí tuệ thấm hút này có mối liên hệ đến ngôn ngữ, bạn sẽ hiểu rằng: Trẻ cần phải được đặt trong môi trường người lớn có khả năng giao tiếp ngôn ngữ tốt, chính xác, và sự giao tiếp diễn ra rất nhiều. Mặc dù phụ nữ có thể bị than phiền vì họ luôn nói quá nhiều, nhưng khả năng nói chuyện này của phụ nữ có lẽ là một trong những món quà đặc biệt mà thiên nhiên ban tặng cho họ vì những lợi ích của họ đối với con cái. Chúng ta phải công nhận là để trẻ phát triển ngôn ngữ, trẻ phải được đưa vào một xã hội gồm những người lớn nói chuyện với nhau. Không có gì hợp lý hơn điều này, bởi vì ngôn ngữ không giống như một bông hoa hay một cái cây; ngôn ngữ là một cái gì đó rất phức tạp, và ngoại trừ trẻ được nuôi dưỡng bởi những người sử dụng ngôn ngữ đó, nếu không trẻ sẽ không thể có được ngôn ngữ cho chính mình. Có lẽ đây là lý do tại sao trẻ bắt đầu sự sống mà không có khả năng di chuyển từ khi sinh ra; trẻ sẽ luôn cần được mẹ mang theo và do đó trẻ được đưa vào môi trường. Vì các bà mẹ là phụ nữ và phụ nữ là những người nói nhiều, trẻ nghe rất nhiều và có thể có được ngôn ngữ.
Bạn thấy đấy, có một lợi thế tự nhiên cho sự nằm yên này của trẻ. Ngày xưa ở nước ta, và ngày nay vẫn còn ở các nước như Ấn Độ, các bà mẹ bế con đi chợ. Trẻ nhìn mọi thứ trong khi người mẹ mặc cả – có những cuộc nói chuyện rất lâu. Nhiều người tham gia và trò chuyện với người mẹ, để trẻ nghe rất nhiều chuyện và nghe những ngữ điệu của ngôn ngữ, lặp đi lặp lại nhiều lần. Đó có thể là một ngôn ngữ giọng mũi, giọng nghe chói tai hoặc giọng trầm, nhưng đây là những âm thanh xâm nhập vào tiềm thức của trẻ. Khi trẻ đã thấm hút tất cả những điều này trong tiềm thức của trẻ, trẻ sẽ cố gắng, và sẽ thành công, để tái tạo những âm thanh là khởi đầu của lời nói. Chúng ta nhận ra các ngôn ngữ giọng mũi, giọng nghe chói tai hoặc giọng trầm bởi vì đứa trẻ đã thấm hút chúng từ môi trường của mình và đã cố định chúng trong tính cách của mình. Nếu không có sự nhạy cảm này, sẽ không có ngôn ngữ giọng mũi, giọng nghe chói tai hoặc giọng trầm. Nhiều người nói với tôi rằng: “Làm sao bà có thể giả vờ rằng trẻ rất thông minh, rằng trẻ có thể làm được tất cả những điều này?” Ồ, thật ra trẻ không thông minh, nhưng có gì đó diễn ra trong tiềm thức mà chúng ta không nhìn thấy từ bên ngoài. Nếu không làm sao trẻ nói với độ chính xác như vậy? Thực tế là không có gì được biểu hiện ra bên ngoài không phải bằng chứng rằng, một điều gì đó rất quan trọng không xảy ra. Đây là lý do tại sao chúng ta phải hiểu giai đoạn này trong sự phát triển của con người; Nếu chúng ta nghiên cứu tâm lý học từ các phản ứng bên ngoài và diện mạo của trẻ, nếu chúng ta đánh giá từ hành vi bên ngoài và nghĩ rằng không có gì xảy ra bên trong của trẻ, thì chúng ta sẽ phạm phải một sai lầm nghiêm trọng. Sai lầm lớn nhất từng xảy ra là chúng ta cô lập trẻ khỏi xã hội của người lớn, như đã xảy ra trong thời hiện đại. Chúng ta chỉ thừa nhận trẻ ở cùng người lớn khi trẻ có một trí tuệ tương tự như người lớn. Trẻ cần được ở bên cạnh người lớn từ khi trẻ còn nhỏ. Từ thực tế của các kết quả đã cho chúng tôi một niềm tin mới rằng: có cái gì đó đang xảy ra bên trong trẻ ở độ tuổi sớm này. Vì vậy, chúng ta phải luôn luôn đưa trẻ đi cùng; chúng ta nên nói chuyện với trẻ – chúng ta không nên đưa trẻ vào một phòng để ngủ một mình cả ngày. Trẻ có thể ngủ cả đêm. Trẻ phải có cơ hội để thực hiện những thu nhận được tạo hóa ban cho con người với các tài năng. Chắc chắn đó là một nhiệm vụ mới mà chúng ta phải đối mặt, để nghiên cứu và chú ý đến các nhu cầu của tâm trí thấm hút của trẻ. Đó là đáp ứng những nhu cầu mà chúng ta nói, “Giáo dục phải bắt đầu từ khi sinh ra”. Chúng ta phải cung cấp các dưỡng chất mà sức mạnh tinh thần của trẻ yêu cầu.
Người dịch: Lê Thị Thu Vân – Giáo Viên Montessori Khóa 1 do Trung tâm Montessori Ấn Độ (IMC) đào tạo.
Hiệu đính: Đội dịch Trung Tâm Montessori Việt Nam (VMC)

